Ngọn đèn không tắt giữa đảo nhỏ

Mười năm rời xa hòn đảo quê, vậy mà mỗi khi nhắm mắt, tôi vẫn nghe rõ tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá, ngửi thấy vị mặn nồng của gió biển và thấy bóng dáng gầy gò của thầy Trí hiện ra như mới hôm qua. Người ta bảo ký ức rồi sẽ phai, nhưng ký ức về thầy, người mà dân đảo gọi bằng cái tên thân thương “người giữ chữ”  thì chưa bao giờ nhạt trong tôi. Giữa biển khơi bão tố, giữa thiếu thốn trăm bề, thầy vẫn kiên trì đứng lớp, giữ từng con chữ cho lũ trẻ chúng tôi.

Ngày thầy mới ra đảo, ai cũng e ngại mà khuyên: “Ở đây khắc nghiệt lắm, thầy trụ nổi không?” Thầy chỉ cười hiền: “Nơi nào cần chữ, tôi ở đó.” Và thầy ở lại thật. Hai mươi năm, từ tấm bảng gỗ mục đến những mùa sóng bạc đầu, thầy coi gian khó như một phần của nghề, của đời.

Ngôi trường ngày ấy chỉ vỏn vẹn ba phòng học. Mỗi lần bão biển ập tới, mái tôn rung bần bật như sắp bị cuốn khỏi nóc. Vậy mà sáng nào thầy cũng có mặt trước bảng đen, cặm cụi nắn từng nét chữ, sửa từng bài làm bằng cây bút máy Thiên Long, món quà hiếm hoi chúng tôi tặng thầy nhân ngày nhà giáo.

Thầy nắn nót sửa từng lỗi sai của học sinh bằng cây bút máy Thiên Long

Lũ học trò trên đảo tóc cháy nắng, da sạm gió biển nhưng đôi mắt lúc nào cũng sáng rỡ. Chúng tôi mê nhất những câu chuyện thầy kể về đất liền: thư viện rộng lớn, trường học đầy đủ thiết bị, những tương lai mở ra thênh thang. Có đứa hỏi “Thầy ơi, đất liền có trường đẹp lắm hả thầy?” Thầy chỉ cười: “Quan trọng là các em chịu học. Tri thức sẽ đưa các em đến nơi mình muốn.”

Tôi còn nhớ năm đảo đón cơn bão lớn. Gió quật đổ cả lũy tre sau lớp. Dân làng khuyên thầy lên tàu cá vào đất liền tránh bão, nhưng thầy lắc đầu “Học trò tôi ở đây. Tôi đi thì ai giữ lớp? Nhỡ mai mái bay mất, tụi nhỏ không có chỗ học thì sao?”

Lúc ấy tôi nghĩ thầy nói chơi. Nhưng sáng hôm sau, trong mưa trắng trời, tôi thấy thầy cùng mấy chú ngư dân ghì từng tấm tôn, chống gió như chống lại cả bão trời. Khi ấy, tôi mới hiểu là thầy chưa từng và sẽ không bao giờ bỏ học trò lại phía sau.

Buổi tối, khi đảo lên thứ ánh sáng vàng nhạt đặc trưng, thầy lại đạp chiếc xe cũ đến nhà văn hóa mở lớp xóa mù chữ cho các cụ già. Tôi có lần tò mò đi theo. Thầy cầm tay từng người, uốn từng nét chữ. Có cụ lần đầu tiên viết được tên mình, xúc động đến rớm nước mắt: “Nhờ thầy, tui mới biết viết tên tui.” Thầy chỉ cười hiền “Biết chữ để không sợ thiệt thòi. Vậy là đủ rồi.”

Năm tôi mười bốn tuổi, quyết định rời đảo để học tiếp. Hôm chia tay, thầy đưa tôi cây bút máy Thiên Long giống hệt bút thầy dùng, chỉ khác màu vỏ. Thầy chọn màu đen và bảo “Đen là màu của sự vững vàng. Con đi xa, phải vững.” Tôi giữ cây bút ấy đến tận bây giờ. Mỗi lần cầm nó, hình ảnh đôi mắt thầy hôm ấy sự lo lắng, tự hào và đầy hy vọng lại hiện lên trong tôi.

Cây bút máy Thiên Long màu đen thầy trao với lời gửi gắm phải vững giữa cuộc đời

Nhờ hy vọng thầy gửi gắm, tôi học đại học, rồi đi làm. Giữa phố xá ồn ào, có những ngày tôi thèm được nghe tiếng sóng, thèm được ngồi trong lớp học chật chội của thầy, nghe giọng thầy kể chuyện vang lên ấm áp như nắng chiều trên biển.

Hôm nay trở lại đảo, mọi thứ đã đổi thay. Con đường cát thành đường bê tông, trường học xây mới, trẻ con đông và líu ríu hơn xưa. Chỉ có dáng thầy từ xa vẫn vậy: chiếc áo bạc màu, cây bút máy cài trên túi áo, chỉ tóc là bạc thêm. Gặp tôi, thầy mỉm cười: “Con về rồi đó hả?”

Tôi muốn nói về những ơn nghĩa, những đổi thay, về việc thầy đã dẫn đường cho cuộc đời tôi… nhưng thứ thoát ra chỉ là câu hỏi thật giản dị: “Thầy… khỏe không?” Thầy vỗ nhẹ vai tôi, cái vỗ vai ấm hơn cả nắng biển “Thầy còn đứng được, còn dạy được là thầy vui rồi.”

Và lúc đó, tôi hiểu một điều rằng ngọn đèn thầy thắp lên giữa đảo nhỏ năm nào vẫn chưa bao giờ tắt. Và có lẽ, sẽ chẳng bao giờ tắt.

 
Thứ Tư 17/12/2025
Bạn có tâm tư cần lắng nghe?
Chia sẻ cùng với chúng tôi
Gửi
Viết bình luận
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên
loader